Để có trải nghiệm tốt hơn trên trên trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Sóc Trăng, bật JavaScript trong trình duyệt của bạn
Bật javasrcipt trình duyệt Chrome Bật javasrcipt trình duyệt IE
chi tiết tin

Quy định mới về phối hợp giải quyết khiếu nại tố cao trong Tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định rất cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì có một số quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng có thể bị khiếu nại, tố cáo. Việc tiếp nhận, phân loại, thụ lý và giải quyết được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể cho từng Cơ quan tiến hành, của từng người có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng hình sự không đơn thuần chỉ do một cơ quan hay một cá nhân duy nhất là đã giải quyết được mà đôi lúc đó là cả một chuỗi những người có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải cùng nhau giải quyết.

Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo thưucj hiện như Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 06/3/2002 của Ban Bí thư về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay; Thông báo số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị 09 và hơn 05 năm thực hiện Thông báo 130 đã có nhiều chuyển biến tích cực; nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, công chức và công dân ngày càng được nâng lên; pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được hoàn thiện. Các cơ quan, tổ chức đã quan tâm tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được tăng cường… Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo liên quan đến tham nhũng, hoạt động tư pháp, tôn giáo còn diễn biến phức tạp. Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, kéo dài, vượt cấp có xu hướng gia tăng, một số vụ việc manh động, quá kích, có sự kích động, hỗ trợ của các phần tử xấu; cá biệt có trường hợp cực đoan, quyết liệt chống lại người thi hành công vụ… Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, thiếu sót là do chính sách pháp luật còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế. Công tác tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức và trách nhiệm thực hiện pháp luật cho cán bộ, đảng viên, công chức và công dân còn hạn chế. Công tác lãnh đạo và tổ chức thực hiện của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa sâu sát, thiếu quyết liệt; người đứng đầu một số cơ quan, tổ chức chưa quan tâm đúng mức đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc xử lý, khắc phục sai phạm chưa nghiêm. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức chưa chặt chẽ; đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được quan tâm, củng cố đúng mức[1]. Để đẩy mạnh công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày một đi vào chiều sâu và có hiệu quả, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua đó, Chỉ thị đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Quốc hội đã ban hành Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, đặc biệt là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tố tụng hình sự; coi đây là nhiệm vụ không thể tách rời của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Bộ luật Tố tụng hình sự đã giành riêng Chương XXXIII, gồm 15 điều luật quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. Chương này quy định về thủ tục khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, không phải mọi khiếu nại, tố cáo đối với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều được xem xét giải quyết theo Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự như việc khiếu nại đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; cáo trạng hoặc quyết định truy tố, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện thì không được xem xét, giải quyết theo thủ tục quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự mà được xem xét giải quyết theo từng quy định riêng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.

Nhằm tăng cường phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tố tụng hình sự và tạo quan hệ phối hợp tốt giữa các cơ quan tố tụng khi thi hành nhiệm vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 05/9/2018 quy định việc phối hợp thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/10/2018 (sau đây gọi là thông tư liên tịch số 02 năm 2018)) và thay thế Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày 10/8/2005 (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 02 năm 2005). Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 có nhiều quy định mới hướng dẫn Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Về cấu trúc, Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 gồm có 05 chương và 19 điều luật. So với thông tư liên tịch số 02 năm 2005 thì Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 có cấu trúc chặt chẽ hơn và được ban hành đúng theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 quy định về phối hợp thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, phân loại, thụ lý, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự và được áp dụng đối với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.

Về cơ bản, Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 kế thừa những ưu điểm của Thông tư liên tịch số 02 năm 2005 và bổ sung những quy định mới nhằm thể chế hóa nội dung của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 có nhiều nội dung mới, quy định chặt chẽ hơn về nhiệm vụ tiếp nhận, phân loại, thụ lý và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự”: so với quy định tại Thông tư liên tịch số 02 năm 2005 thì cách khái niệm tại Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 cơ bản là giống nhau. Tuy nhiên, Thông tư mới có bổ sung đối tượng bị khiếu nại là “quyết định giải quyết khiếu nại” vào định nghĩa là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bởi lẽ, đối tượng bị khiếu nại trong tố tụng hình sự không chỉ có quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại mà kể cả “quyết định giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự” nếu người  khiếu nại không đồng ý thì vẫn có quyền khiếu nại tiếp quyết định về giải quyết khiếu nại của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền đã giải quyết lần đầu đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo.

Thứ hai, Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 không giải thích thế nào là quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại là phù hợp. Bỡi vì tại Điều 470 Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định rất cụ thể các quyết định, hành vi tố tụng nào có thể bị khiếu nại. Theo đó, so với quy định tại Thông tư liên tịch số 02 năm 2005 thì đối Quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại mở rộng thêm là đối với quyết định, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và bổ sung các hành vi của Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên cũng có thể bị khiếu nại. Có sự mở rộng về đối tượng bị khiếu nại như trên là do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thêm nhiều nhiệm vụ, quyền hạn cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Đặc biệt, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thêm người tiến hành tố tụng bao gồm Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên để phù hợp với thực tiễn. Một số nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được tăng thẩm quyền theo quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc từ thực tiễn; thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án khẩn trương, chính xác; tăng cường trách nhiệm của những chức danh tư pháp, bao gồm:

- Tăng cho Điều tra viên các thẩm quyền: (1) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; (2) Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; (3) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ; quyết định dẫn giải người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại; (4) Quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; (5) Quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; (6) Thi hành lệnh phong tỏa tài khoản[2].

- Tăng cho Kiểm sát viên các thẩm quyền: (1) Trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; (2) Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; (3) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; (4) Bắt buộc có mặt khi Cơ quan điều tra tiến hành đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét; (5) Yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can; (6) Quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại; (7) Quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội[3].

- Tăng cho Thẩm phán các thẩm quyền: (1) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp cưỡng chế; (2) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản; (3) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; (4) Yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; (5) Quyết định việc thu thập, bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử[4].

- Mở rộng diện người tiến hành tố tụng: Để phù hợp với Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức tòa án nhân dân và thực tiễn giải quyết vụ án hình sự thời gian qua, BLTTHS năm 2015 bổ sung diện người tiến hành tố tụng gồm: Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên và quy định cụ thể nhiệm vụ của họ khi được phân công giúp việc cho Điều tra viên, kiểm sát viên, Chánh án Tòa án. Với việc mở rộng diện người tiến hành tố tụng như trên dẫn đến các hành vi của Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên có thể bị khiếu nại trong khi thi hành nhiệm vụ[5].

Thứ ba, ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 là 11 biểu mẫu sử dụng chung cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khi giải quyết khiếu nại, tố cáo. Việc quy định thống nhất biểu mẫu giữa các cơ quan sẽ tạo thuận lợi trong quá phối hợp giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng hình sự giữa các cơ quan tố tụng; khắc phục tình trạng các cơ quan sử dụng các biểu mẫu không giống nhau về cùng một nội dung, vấn đề.

Thứ tư, về điều kiện thụ lý đơn khiếu nại cũng được Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 quy định rất đầy đủ, chặt chẽ và phù hợp như người khiếu nại phải phải có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi tố tụng mà mình khiếu nại; người khiếu nại phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; việc khiếu nại phải còn trong thời hiệu khiếu nại theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền. Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 đã bỏ quy định về điều kiện thụ lý khiếu nại là “người khiếu nại phải làm đơn và gửi đến đúng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết” là phù hợp với quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại. Bỡi lẽ, người khiếu nại đôi lúc không hiểu pháp luật, họ chỉ biết có quyền khiếu nại nhưng hoàn toàn không biết phải khiếu nại đến cơ quan, cá nhân nào có thẩm quyền giải quyết. Mặt khác, theo quy định về xử lý đơn khiếu nại thì khi cơ quan nhận đơn xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình nhưng nếu khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp thì chuyển đơn đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết[6]. Còn theo quy định tại thông tư liên tịch số 02 năm 2005 thì điều kiện thụ lý đơn khiếu nại là buộc người khiếu nại phải gửi đơn đến đúng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết dẫn đến trên thực tiễn có một số trường hợp người  khiếu nại có đơn khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng hình sự không được thụ lý, giải quyết kịp thời, thấu đáo làm cho hết thời hiệu khiếu nại theo quy định của pháp luật, từ đó dẫn đến bức xúc, khiếu kiện đông người, kéo dài, phức tạp và vượt cấp tăng cao.

Thứ năm, Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 quy định trong trường hợp khiếu nại, tố cáo thỏa mãn các điều kiện theo quy định mà không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì được thực hiện theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Hay nói cách khác nếu như khiếu nại, tố cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật thì hậu quả có thể dẫn đến trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định. Qua đó cho thấy các Cơ quan tư pháp Trung ương rất quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tố tụng hình sự, xem đây là quyền, lợi chính đáng của người khiếu nại, tố cáo và buộc các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và làm sao cho thấu tình, đạt lý; tăng cường vai trò, trách nhiệm của các Cơ quan tiến hành tố tụng và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự.

Thứ sáu, một trong những quy định rất quan trọng trong Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 là quy định về phối hợp trong kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự, đây là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của ngành Kiểm sát nhân dân được Hiến pháp quy định. Qua đó, Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới (sau đây gọi là cơ quan giải quyết khiếu nại) từ khi tiếp nhận, thụ lý khiếu nại, tố cáo cho đến khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại, tố cáo. Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Viện kiểm sát có quyền áp dụng các biện pháp kiểm sát sau đây:

Biện pháp thứ nhất: Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong trường hợp Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo kèm theo tài liệu chứng minh việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không ban hành văn bản giải quyết khi đã hết thời hạn hoặc khi có văn bản yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo hoặc có căn cứ khác xác định đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không ban hành văn bản giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc ban hành văn bản yêu cầu được thực hiện trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được thông tin về vi phạm. Biện pháp yêu cầu ra văn bản giải quyết có thể áp dụng đối với một việc khiếu nại, tố cáo, cũng có thể áp dụng đối với nhiều việc khiếu nại, tố cáo. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Viện kiểm sát, cơ quan được kiểm sát phải thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát. Trường hợp có lý do khách quan cần kéo dài thời hạn, cơ quan được kiểm sát phải thông báo rõ lý do bằng văn bản, thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản.

 Biện pháp thứ hai: Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới khi Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo và có căn cứ xác định cơ quan, người có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng chưa đủ căn cứ kết luận vi phạm hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo về vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Biện pháp yêu cầu tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có thể áp dụng đối với một việc khiếu nại, tố cáo hoặc nhiều việc khiếu nại, tố cáo trong một thời điểm. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cơ quan được kiểm sát phải thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát. Trường hợp có lý do khách quan cần kéo dài thời hạn, cơ quan được kiểm sát phải thông báo rõ lý do bằng văn bản, thì thời hạn là 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản.

Biện pháp thứ ba: Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo khi Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo hoặc nhận được kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo mà phát hiện thấy cơ quan, người có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cơ quan được kiểm sát phải thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát. Trường hợp có lý do khách quan cần kéo dài thời hạn, cơ quan được kiểm sát phải thông báo rõ lý do bằng văn bản, thì thời hạn là 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản.

Biện pháp thứ tư: Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ quan giải quyết khiếu nại cùng cấp và cấp dưới khi Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo mà phát hiện thấy cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu vi phạm hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo hoặc có căn cứ xác định cơ quan, người có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Biện pháp trực tiếp kiểm sát được áp dụng đối với kiểm sát những việc khiếu nại, tố cáo cụ thể hoặc kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong một thời điểm nhất định. Việc trực tiếp kiểm sát phải có quyết định bằng văn bản và do Viện trưởng Viện kiểm sát tổ chức thực hiện. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định trực tiếp kiểm sát, cơ quan được kiểm sát phải xây dựng báo cáo theo các nội dung được kiểm sát và cung cấp đầy đủ hồ sơ, sổ thụ lý và các tài liệu khác có liên quan theo yêu cầu của Viện kiểm sát, tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát.

Khi kết thúc việc áp dụng một trong các biện pháp kiểm sát theo biện pháp thứ hai, thứ ba và thứ tư, Viện kiểm sát phải ban hành kết luận kiểm sát. Trường hợp áp dụng nhiều biện pháp kiểm sát đối với một vụ việc thì Viện kiểm sát chỉ ban hành kết luận kiểm sát khi kết thúc biện pháp kiểm sát cuối cùng. Trường hợp có căn cứ kết luận vi phạm pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan được kiểm sát, tùy tính chất mức độ vi phạm, Viện kiểm sát ban hành kháng nghị hoặc kiến nghị yêu cầu cơ quan được kiểm sát khắc phục vi phạm. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát, cơ quan được kiểm sát phải có văn bản trả lời; trường hợp cần kéo dài thời hạn thì cơ quan được kiểm sát phải có văn bản thông báo rõ lý do. Nội dung văn bản trả lời phải nêu ý kiến đồng ý thực hiện hoặc không đồng ý với kháng nghị hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát. Nếu không nhất trí với kháng nghị hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát, cơ quan được kiểm sát có quyền kiến nghị đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải có văn bản kết luận và trả lời cơ quan được kiểm sát. Trường hợp Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu, kháng nghị hoặc kiến nghị, nhưng cơ quan được kiểm sát không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ mà không có lý do thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan được kiểm sát để có biện pháp buộc cơ quan được kiểm sát phải thực hiện. Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị hoặc kiến nghị có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện kháng nghị hoặc kiến nghị. Nội dung kiểm tra phải phù hợp với nội dung kháng nghị hoặc kiến nghị. Việc kiểm tra phải có quyết định kiểm tra. Kết thúc kiểm tra, Viện kiểm sát phải có văn bản kết luận việc thực hiện kháng nghị hoặc kiến nghị của cơ quan được kiểm tra.

Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 đã quy định rất đầy đủ và chặt chẽ về mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trọng việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng hình sự, tạo cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hình sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình được chính xác và kịp thời. Bên cạnh đó, Thông tư cũng đã thể hiện rõ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự càng được quan tâm hơn bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của con người, quyền công dân; có ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị của người bị buộc tội và những người thân thích của họ.

Để đảm bảo tuyệt đối quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Qua đó góp phần kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp nói chung và trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng; bảo đảm việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải tuân thủ nghiêm minh và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Qua nghiên cứu thông tư liên tịch số 02 năm 2018 thấy quy phối hợp về kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng hình sự tại Thông tư là hoàn toàn tương thích với với quy định tại Quy chế số 51 ngày 02/02/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên làm nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp có thể thực hiện ngay Thông tư liên tịch số 02 năm 2018 một cách chủ động và có hiệu quả. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện được tốt những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đã giao phó cho Ngành kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự thì mỗi cán bộ, Kiểm sát viên, Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp phải đặc biệt quan tâm, không ngừng trao dồi nghiên cứu, cập nhật thường xuyên các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp nói chung và trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng để có thể thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ về công tác giải quyết khiếu nại: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đãng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ[7].


Trần Văn Trung

 


[1] Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

[2] Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4] Điều 45 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5] Xem thêm các Điều 38, 43, 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6] Điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02 năm 2018.

[7] Xem phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị về giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày 19/5/2018, truy cập tại http://vpcp.chinhphu.vn.


Tin liên quan

» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến nghị yêu cầu cơ quan CSĐT Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố tác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác giải quyết án Hình sự
» VKSND huyện Kế Sách tăng cường công tác Kiến nghị trong tuyên truyền, phổ biến quy định về họ, hụi, biêu phường tại địa phương
» Viện KSND tỉnh Sóc Trăng kiến nghị áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
» Thực hiện tốt việc giải quyết án hình sự liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh Covid 19