Để có trải nghiệm tốt hơn trên trên trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Sóc Trăng, bật JavaScript trong trình duyệt của bạn
Bật javasrcipt trình duyệt Chrome Bật javasrcipt trình duyệt IE
chi tiết tin

Quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân sự

Tiếp cận chứng cứ là quyền cơ bản của đương sự về được biết, sao chép tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhằm đảm bảo hoạt động tranh tụng trong xét xử được đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai trong suốt quá trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự được Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định cụ thể trong các điều luật như Điều 24, 70, 76, 96, 97, 109, 196, 199, 210,… Xét về chủ thể thực hiện có thể chia thành hai dạng, là đương sự và Tòa án (Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án), xét về đối tượng thực hiện có thể chia là đối tượng được công khai và đối tượng không được công khai.

Nghĩa vụ của đương sự trong thực hiện quyền tiếp cận chứng cứ được Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận từ các nguyên tắc cơ bản và trong suốt hoạt động tố tụng của Tòa án. Kể từ khi thụ lý vụ án, các đương sự có nghĩa vụ phải thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (Điều 24 và khoản 5 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Phương thức thông báo được thực hiện bằng việc sao gửi tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; trường hợp các tài liệu, chứng cứ thuộc những nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự (khoản 2 Điều 109 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) hoặc không thể sao gửi thì phải thông báo bằng văn bản cho nhau (khoản 5 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp (khoản 3 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Như vậy, Tòa án cần phải giải thích cho đương sự về nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho các đương sự khác, trường hợp nguyên đơn không thể sao gửi được vì nguyên nhân khách quan thì có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ việc sao gửi, tuy nhiên vấn đề này không được Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận. Thực tiễn cho thấy rất khó xác định được đương sự có sao gửi các tài liệu, chứng cứ cho nhau hay không, đặc biệt là trong vụ án có một trong các đương sự vắng mặt, không tham gia các hoạt động tố tụng.

Đối với Tòa án, khi xác minh, thu thập chứng cứ thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình (khoản 5 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Ngoài ra, để đảm bảo quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ của đương sự một cách triệt để, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, trừ tài liệu, chứng cứ có những nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự (khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) và Tòa án phải mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được thì mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đây là thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ án ra xét xử, thông qua đó, tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bao gồm các tài liệu chứng cứ mà các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập được công khai đầy đủ. Tại phiên họp, các đương sự được quyền bổ sung, yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập người làm chứng và người tham gia tố tụng khác (khoản 1, khoản 2 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015), trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ (khoản 3 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Đối với các tài liệu, chứng cứ phát sinh sau phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ có thể hiểu là Tòa án không phải mở lại phiên họp nhưng phải thực hiện việc thông báo cho đương sự.

Khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, mà đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự (khoản 4 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Như vậy, ngoài trường hợp các tài liệu, chứng cứ mà đương sự không biết hoặc biết mà không giao nộp được vì lý do chính đáng, mà sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự mới giao nộp, thì Tòa án có thể từ chối những tài liệu chứng cứ đó, đương sự có quyền giao nộp cho Tòa án ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo như phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Quy định này cũng nhằm đảm bảo quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự khác trong vụ án, đảm bảo tại phiên tòa, phiên họp, các bên đương sự đã được tiếp cận đầy đủ các tài liệu, chứng cứ.

Tóm lại, trong suốt quá trình tố tụng, các đương sự có nghĩa vụ sao gửi, thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp, Tòa án phải đảm bảo cho đương sự quyền được tiếp cận tài liệu chứng cứ bằng việc thông báo hoặc sao gửi và mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ để đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, chấp nhận hay không chấp nhận các tài liệu chứng cứ mà đương sự giao nộp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự hoặc quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015./.

Lê Hồng Như


Tin liên quan

» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến nghị yêu cầu cơ quan CSĐT Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố tác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác giải quyết án Hình sự
» VKSND huyện Kế Sách tăng cường công tác Kiến nghị trong tuyên truyền, phổ biến quy định về họ, hụi, biêu phường tại địa phương
» Viện KSND tỉnh Sóc Trăng kiến nghị áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
» Thực hiện tốt việc giải quyết án hình sự liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh Covid 19