Để có trải nghiệm tốt hơn trên trên trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Sóc Trăng, bật JavaScript trong trình duyệt của bạn
Bật javasrcipt trình duyệt Chrome Bật javasrcipt trình duyệt IE
chi tiết tin

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp đương sự rút toàn bộ đơn khởi kiện, thì đương sự hay không có quyền khởi kiện lại?

          Quyền khởi kiện lại trong tố tụng dân sự được hiểu là quyền của đương sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự sau khi bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện thì đương sự  vẫn được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

          Quan hệ dân sự mà trong đó các quyền và nghĩa vụ dân sự đều được xây dựng dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự. Xuất phát từ nguyên tắc này mà đương sự có quyền khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Nếu sau khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết vụ án dân sự theo thẩm quyền,sau đó đương sự rút lại toàn bộ đơn khởi kiện thì Tòa án sẽ ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên vấn đề người viết muốn đề cập ở đây là: Khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp đương sự rút lại toàn bộ đơn khởi kiện thì đương sự đã từng rút lại đơn khởi kiện vẫn có hay không có quyền khởi kiện lại?

          Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau:      “1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”

          Tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS quy định như sau:

          “1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

          ..........

          c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan...”

          Như vậy từ các quy định nêu trên cho thấy: sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền mà người khởi kiện rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS. Trong trường hợp này người khởi kiện vẫn có quyền khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS.

          Tuy nhiên nhìn chung, thực tế cho thấy thông thường thì khi ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện thì quyết định đình chỉ của Tòa án lại không ghi nhận đầy đủ hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án, mà đáng nói là không ghi nhận “quyền khởi kiện lại” của đương sự. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể: là do nhận thức của Thẩm phán Tòa cấp sơ thẩm cho rằng đương sự phải tự biết và thực hiện quyền khởi kiện lại của mình; hoặc do còn nhầm lẫn giữa hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự rút toàn bộ đơn khởi kiện so với hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án từ các căn cứ còn lại được quy định tại Điều 217 BLTTDS; hoặc do sơ sót khi chưa nghiên cứu kỹ các quy định về giải quyết hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án... Nhưng dù là nguyên nhân nào thì việc không ghi nhận quyền khởi kiện lại của đương sự theo quy định pháp luật đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

          Tại đơn vị Viện kiểm sát huyện Thạnh Trị, qua thực hiện kiểm sát đối với các quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát huyện Thạnh Trị đã phát hiện một số Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án chưa ghi nhận quyền được khởi kiện lại của đương sự (đối với trường hợp đương sự rút toàn bộ đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS). Như vậy là Tòa án đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS và chưa thực hiện chưa đúng theo nội dung Hướng dẫn Mẫu Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự- Mẫu số 45 (Bộ mẫu được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ- HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao). Điều đó đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cụ thể là nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện nhưng không biết là mình có quyền được khởi kiện lại hay không?. Vì vậy, qua thực hiện việc kiểm sát các quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cùng cấp từ cuối năm 2017 đến đầu năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị đã ban hành 02 Kiến nghị yêu cầu Tòa án cùng cấp khắc phục vi phạm liên quan đến việc ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nhưng không ghi nhận quyền khởi kiện lại của đương sự theo quy định của pháp luật. Nội dung kiến nghị này của Viện kiểm sát huyện Thạnh Trị đều được Tòa án cùng cấp thống nhất và chấp nhận.

           Từ những thực tiễn đã nêu trên, nhận thấy khi kiểm sát các quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, cần nắm rõ các quy định của pháp về tố tụng dân sự một cách tổng quát và vận dụng chính xác các quy định đó thì mới kịp thời phát hiện vi phạm.

          - Xét về tổng thể: Khi ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đòi hỏi Tòa án phải nêu đầy đủ hậu quả của việc định chỉ. Vì:

           Theo nội dung Hướng dẫn Mẫu số 45 –Mẫu đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Bộ mẫu được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ- HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao) có hướng dẫn rõ:

          “…9) Tuỳ vào từng trường hợp đình chỉ vụ án cụ thể mà ghi hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự, (kể cả về tiền tạm ứng án phí)...

           Và nội dung quy định tại Điều 218 BLTTDS quy định về hậu quả của việc đình chỉ vụ án như sau:

          1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

          2. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

          3. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

          4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

          Từ các quy định đã trích dẫn nêu trên cho thấy: hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nói chung theo quy định tại Điều 218 BLTTDS là bắt buộc phải nêu rõ hậu quả của việc giải quyết đối với 03 vấn đề sau: (1) đương sự có quyền khởi kiện lại hay không; (2) giải quyết tiền tạm ứng án phí là tịch thu công quỹ hay hoàn trả lại cho đương sự; (3) Quyết định đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

          - Xét riêng về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp đương sự rút toàn bộ đơn khởi kiện (theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS) thì đòi hỏi quyết định đình chỉ đó phải nêu rõ hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án mà cụ thể là phải ghi rõ việc giải quyết các vấn đề sau: (1) đương sự được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật; (2) Hoàn trả tiền tạm ứng phí đã nộp cho đương sự; (3) đương sự có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định đình chỉ.

          Có như vậy thì mới vừa đảm bảo được việc pháp luật được áp dụng đầy đủ, thống nhất. Đồng thời vừa đảm bảo được việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự./.

Nguyễn Nguyệt Hân

KSV sơ cấp - VKSND huyện Thạnh Trị

 


Tin liên quan

» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến nghị yêu cầu cơ quan CSĐT Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố tác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác giải quyết án Hình sự
» VKSND huyện Kế Sách tăng cường công tác Kiến nghị trong tuyên truyền, phổ biến quy định về họ, hụi, biêu phường tại địa phương
» Viện KSND tỉnh Sóc Trăng kiến nghị áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
» Thực hiện tốt việc giải quyết án hình sự liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh Covid 19