Để có trải nghiệm tốt hơn trên trên trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Sóc Trăng, bật JavaScript trong trình duyệt của bạn
Bật javasrcipt trình duyệt Chrome Bật javasrcipt trình duyệt IE
chi tiết tin

Một số suy nghĩ về: kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến án phí sơ thẩm

      Có thể nói rằng việc xác định sai án phí  là một trong những vi phạm phổ biến của Tòa án cấp sơ thẩm.  Điều này trước hết xuất phát từ nguyên nhân là do việc nhận thức và áp dụng pháp luật của Thẩm phán giải quyết vụ án chưa đúng quy định, hoặc do tính toán sai sót, nhầm lẫn…dẫn đến không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước.

      Nhận thức được tầm quan trọng của việc xác định án phí trong giải quyết các vụ án dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị luôn lưu ý vấn đề này khi kiểm sát các bản án quyết định của Tòa án cùng cấp.  Vì vậy trong thời gian qua, đã phát hiện 02 trường hợp Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị xác định sai án phí. Qua đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị đã thực hiện tốt quyền kháng nghị, kiến nghị theo quy định của pháp luật. Cụ thể:

      1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự số 06/2018/QĐST-DS ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị có nội dung:

      “1. Công nhận sự thỏa thuận giữa: Nguyên đơn bà Phạm Thị Nhiên; Trú ấp Tân Nghĩa, xã Lâm Tân, huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng. Bị đơn: Ông Cao Văn Gỡ và Bà Lê Thị Nết; Cùng trú ấp Tân Nghĩa, xã Lâm Tân, huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng.

      2. Sự thỏa thuận giữa các đương sự cụ thể như sau: Nguyên đơn bà Phạm Thị Nhiên với bị đơn ông Cao Văn Gở, bà Lê Thị Nết thống nhất thỏa thuận như sau: Ông Cao Văn Gỡ, bà Lê Thị Nết đồng ý trả cho bà Phạm Thị Nhiên số tiền mua vật tư nông nghiệp còn thiếu là: 40.400.000 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm ngàn đồng)….”

      Tòa án sơ thẩm xác định án phí Ông Gỡ, bà Nết phải chịu: 252.500 đồng; Bà Nhiên phải chịu: 252.500 đồng là chưa chính xác. Vì: Căn cứ theo khoản 3 Điều 147 BLTTDS năm 2015, quy định như sau: “…Trước khi mở phiên tòa, tòa án tiến hành hòa giải; nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Đồng thời tại khoản 7 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định  về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án (gọi tắt là Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016) quy định như sau: “….Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch”. Và tại khoản 3 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định: “Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể.

      Từ những căn cứ pháp luật nêu trên đã khẳng định đây là vụ án dân sự có giá ngạch nên án phí sơ thẩm được tính như sau: 5% x 40.400.000 đồng = 2.020.000 đồng. Mặt khác trong vụ án nêu trên các đương sự không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí và các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa nên phải chịu 50% án phí dân sự sơ thẩm là 1.010.000 đồng (tức 50% x 2.020.000 đồng). Nhưng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị ghi nhận phần án phí ông Gỡ, bà Nết phải chịu 252.500 đồng; Bà Nhiên phải chịu 252.500 đồng là chưa đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTDS năm 2015 và khoản 7 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng đã ban hành Kiến nghị số 02/KN-DS ngày 03/5/2018 yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị khắc phục, nghiêm túc rút kinh nghiệm đối với vi phạm nêu trên và thông báo kết quả thực hiện bằng văn bản cho Viện kiểm sát trong thời gian luật định.

          2.  Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2018/DS-ST ngày 13/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng

          Về giải quyết“Tranh chấp quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Phụng và Ông Trần Văn Điền (Điều); sinh năm 1957; cùng Địa chỉ: Ấp Rẫy Mới, thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng với bị đơn là ông Tô Vũ; Sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 04, ấp Xa Mau 1, thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Tòa án xác định án phí chưa chính xác. Cụ thể:

          - Thứ nhất: Bản án tuyên không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn bà Đỗ Thị Phụng về yêu cầu bị đơn Tô Vũ giao trả 3.282m2 nhưng Quyết định của bản án sơ thẩm buộc nguyên đơn bà Đỗ Thị Phụng phải chịu số tiền 6.564.000 đồng (án phí có giá gạch 3.282m2 x 40.000 đồng x 5%) là chưa đúng. Vì  tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội có quy định: “Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét giá trị, chỉ xem xét quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch”. Trong trường hợp này Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị Phụng khởi kiện yêu cầu ông Tô Vũ trả quyền sử dụng đất diện tích 3.282m2, như vậy là Tòa án không xem xét giá trị mà chỉ xem xét quyền sử dụng đất của ai nên thuộc trường hợp án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.  Do đó, quyết định của bản án sơ thẩm buộc nguyên đơn bà Đỗ Thị Phụng phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 6.564.000 đồng là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phụng.

Thứ hai,  Tòa án tuyên chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Trần Văn Điền (Điều) về yêu cầu bị đơn Tô Vũ trả cho nguyên đơn ông Điền diện tích 1.418,9m2 nhưng tuyên buộc bị đơn Tô Vũ phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch đối với phần yêu cầu của nguyên đơn Điền được chấp nhận là 2.837.800 đồng (1.418,9m2 x 40.000 đồng x 5%) là chưa đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, trường hợp này bị đơn Tô Vũ chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Nhằm đảm bảo việc xác định án phí sơ thẩm đúng theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị đã ban hành Quyết định số 03/2018/KNPT-DS ngày 27/7/2018 kháng nghị một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2018/DS-ST ngày 13/7/2018 theo hướng đề nghị Tòa cấp phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS năm 2015 sửa một phần Bản án về phần án phí như đã phân tích.

Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến những vi phạm về án phí tuy nhiên trong thực tế còn nhiều những vi phạm, thiếu sót khác của Tòa án cấp cần được cán bộ, Kiểm sát viên kịp thời phát hiện. Nhìn chung, thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị là hoạt động thực hiện “quyền” và cũng đồng thời là thực hiện “trách nhiệm” của Viện kiểm sát. Thực hiện tốt quyền kháng nghị, kiến nghị trong kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự không chỉ là cơ sở góp phần hoàn thành các chỉ tiêu nghiệp vụ, là biện pháp bảo đảm pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà còn là cơ sở để khẳng định vai trò, vị thế của Ngành Kiểm sát trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.

Nguyễn Nguyệt Hân

KSV sơ cấp - VKSND huyện Thạnh Trị


Tin liên quan

» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến nghị yêu cầu cơ quan CSĐT Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố tác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác giải quyết án Hình sự
» VKSND huyện Kế Sách tăng cường công tác Kiến nghị trong tuyên truyền, phổ biến quy định về họ, hụi, biêu phường tại địa phương
» Viện KSND tỉnh Sóc Trăng kiến nghị áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
» Thực hiện tốt việc giải quyết án hình sự liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh Covid 19