Để có trải nghiệm tốt hơn trên trên trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Sóc Trăng, bật JavaScript trong trình duyệt của bạn
Bật javasrcipt trình duyệt Chrome Bật javasrcipt trình duyệt IE
chi tiết tin

 Nguyễn Văn V chỉ phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

 Nhân đọc bài “Xác định tội danh của Nguyễn Văn V thế nào cho đúng ?” của tác giả Bùi Thị Tố Nga, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh vừa đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2015 (kỳ I tháng 4/2015) trao đổi về tội danh. Tôi xin trao đổi với tác giả việc xác định tội danh đối với Nguyễn Văn V. Trước khi trao đổi tôi xin nêu lại nội dung vụ án để bạn đọc chưa có dịp đọc bài viết này của tác giả để tiện theo dõi và cùng tham gia trao đổi với tác giả: “Khoảng 15 giờ ngày 16/6/2014, chị Lê Thanh M điều khiển xe Mô tô biển số 14A-xxxx đến nhà Nguyễn Văn V ở tổ 2, khu 3, phường HH, thành phố HL, tỉnh QN chơi. Sau đó, V rủ M đi ăn tối. Chị M đồng ý, V điều khiển chiếc xe Mô tô của chị M chở chị M đến Nhà hàng Sóng Xanh ở số 145, phường HH, thành phố HL, tỉnh QN. Trong lúc đang ăn tối, V nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe Mô tô của chị M nên V đã nói với chị M cho V mượn xe khoảng 15 phút để V đi đón em gái của V ở dưới quê lên chơi. Chị M đã tin tưởng và đưa xe Mô tô biển số 14A-xxxx của mình cho V mượn. Sau khi lấy được xe Mô tô, V điều khiển xe đến ngã tư LT thuộc địa phận phường TH, thành phố HL, tỉnh QN thì xe không đi được nữa do hết xăng. V dắt xe vào cây xăng gần đó mở cốp xe để đổ xăng thì phát hiện trong cốp xe của chị M có một bọc giấy Nylon. V mở bọc giấy Nylon ra thì thấy trong đó có 01 tập tiền mệnh giá 500.000 đồng, V đếm thì thấy có tất cả là 40.000.000 đồng, V liền lấy bọc tiền đó cho vào túi quần. Sau đó, rút chiếc ví ra trả tiền mua xăng và điều khiển xe Mô tô đến tiệm cầm đồ TA thuộc địa phận phường TH, thành phố HL, tỉnh QN để cầm chiếc xe Mô tô biển số 14A-xxxx của chị M cho anh Phạm Văn T (chủ tiệm cầm đồ) lấy số tiền 5.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết. Còn chị M, sau khi ăn tối xong không thấy V quay lại nên thanh toán tiền ăn và đi về nhà. Đến sáng ngày 17/6/2014 do không thấy V mang trả xe nên làm đơn tố cáo V, đề nghị Công an thành phố HL giải quyết. Ngày 18/6/2014, Công an thành phố HL mời Nguyễn Văn V đến làm việc thì V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn V và khởi tố V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tại Bản kết luận giá trị tài sản ngày 30/6/2014 của Hội đồng định giá tài sản thành phố HL đã kết luận: chiếc xe Mô tô biển số 14A-xxxx trị giá 15.000.000 đồng. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, V khai ban đầu V chỉ có ý định lừa đảo để chiếm đoạt chiếc xe Mô tô biển số 14A-xxxx của chị M. Còn đối với số tiền 40.000.000 đồng là do sau khi lấy được chiếc xe Mô tô của chị M, trên đường mới phát hiện ra bọc tiền chị M để trong túi Nylon nên V mới nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền đó. Tại Cáo trạng số 58/VKS-HS ngày 28/7/2014 của thành phố HL đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự. Vụ án có hai ý kiến khác nhau về việc xác định tội danh và áp dụng pháp luật đối với Nguyễn Văn V. Ý kiến thứ nhất cho rằng, hành vi của Nguyễn Văn V phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự. Ý kiến thứ hai cho rằng, hành vi của Nguyễn Văn V chiếm đoạt chiếc xe Mô tô biển số 14A-xxxx của chị M phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự, còn hành vi của Nguyễn Văn V chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng trong cốp xe của chị M phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại quy định tại điểm khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự”. Tác giả đồng tình với ý kiến thứ hai.

Tôi xin trao đổi với tác giả nhằm góp phần vào việc nhận thức để áp dụng chính xác quy định của pháp luật hình sự về tội danh trong việc xác định tội theo quy định của Bộ luật Hình sự nói riêng cũng như góp phần làm cho pháp  luật nói chung được nhận thức đầy đủ để tuân thủ nghiêm minh và thống nhất.

Về tổng quan, ta muốn xác định chính xác tội danh của “Tội phạm” thì trước hết phải nắm vững các yếu tố (04 yếu tố) cấu thành tội phạm, đó là: mặt chủ quan, khách quan, chủ thể và khách thể của tội phạm, trong đó mặt chủ thể (ý chí của người phạm tội) là hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, phải nắm vững đặc trưng cơ bản của từng tội phạm xâm phạm đến khách thể cụ thể. Đặc biệt là đối với một số tội có hành vi ly lai: giữa tội “Hiếp dâm trẻ em” với tội “Dâm ô đối với trẻ em”, giữa tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, giữa tội “Cướp tài sản” với tội “Cướp giật tài sản”… Tội “Hiếp dâm trẻ em” với tội “Dâm ô đối với trẻ em” cùng xâm phạm đến khách thể là danh dự, nhân phẩm (tình dục) của con người. Còn các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Cướp tài sản” và  “Cướp giật tài sản” đều cùng xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của con người.

Trở lại vấn đề xác định tội danh của Nguyễn Văn V như tác giả Bùi Thị Tố Nga đưa ra trao đổi. Về mặt chủ quan, qua bước đầu đấu tranh thì V đã thừa nhận có ý định lừa đảo để chiếm đoạt chiếc xe Mô tô biển số 14A-xxxx của chị M với cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố HL. Còn đối với số tiền 40.000.000 đồng là do sau khi lấy được chiếc xe Mô tô của chị M, trên đường mới phát hiện ra bọc tiền chị M để trong túi Nylon nên V mới nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền đó luôn... Do vậy, theo tôi hành vi của V thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, trong đó mặt chủ quan (ý chí của V) là lừa đảo để chiếm đoạt chiếc xe Mô tô của chị M và để thực hiện ý định đó, V dùng ngay thủ đoạn gian dối để mượn chiếc xe Mô tô của chị M với lý do “Đi đón em gái của V ở dưới quê lên chơi” nhằm chiếm đoạt cho kỳ được chiếc xe Mô tô của chị M. Về mặt khách quan, tội phạm hoàn thành từ khi V chiếm đoạt được chiếc xe Mô tô của chị M, còn việc V sử dụng, làm gì đối với chiếc xe Mô tô là ngoài tầm kiểm soát của chị M.

Đối với ý kiến thứ hai cho rằng, hành vi của V chiếm đoạt chiếc xe Mô tô biển số 14A-xxxx của chị M phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự, còn hành vi của V chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng trong cốp xe của chị M phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại quy định tại điểm khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.     

Ý kiến này căn cứ vào Bản kết luận giá trị tài sản ngày 30/6/2014 của Hội đồng định giá tài sản thành phố HL xác định tội danh của V là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự và tách hành vi lấy số tiền 40.000.000 đồng mà V lấy trong cốp xe của chị M để xác định V phạm thêm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự với lý lẽ, V thực hiện việc lấy số tiền này một cách lén lút đối với chị M là không đặt sự vật trong mối quan hệ biện chứng để xem xét một cách toàn diện nên không có căn cứ pháp lý, gây bất lợi cho V. Bởi lẽ, ngay từ đầu V dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt khối vật chất (chiếc xe Mô tô của chị M) và V đã chiếm đoạt được khối vật chất ấy. Như vậy, V được chị M giao cho quyền sử dụng đối với chiếc xe Mô tô thì việc V lấy số tiền khi không có mặt chị M là lẽ tất nhiên, không thể cho rằng V lén lút đối với chị M. Nhìn ở góc độ của phạm trù “Vật chất” từ tư duy Triết học thì số tiền này là một phần giá trị vật chất nằm trong khối vật chất đã bị chiếm đoạt. Nên bất luận V có lấy số tiền này hay không thì V cũng phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với tổng giá trị được xác định đối với khối vật chất ấy. Ý kiến này xác định V phạm đến hai tội là không có tính thuyết phục.

Xuất phát từ mặt chủ quan thông qua hành vi khách quan của chủ thể hướng đến khách thể thì thấy rằng việc khởi tố, điều tra về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố HL đối với V cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân  thành phố HL việc truy tố đối với V  về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự (như ý kiến thứ nhất) là thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Hình sự về phân loại tội phạm là đúng với quy định của Bộ luật Hình sự và có tính thuyết phục cao. Do vậy, tôi cũng hoàn toàn thống nhất với ý kiến thứ nhất là V chỉ phạm duy nhất tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự.

Đây chỉ là ý kiến của tôi tham gia trao đổi với tác giả xung quanh việc xác định tội danh đối với Nguyễn Văn V. Song, trên phương diện khoa học tất nhiên cũng còn nhiều bất cập và nhận thức khác nhau. Mong quý Độc giả tiếp tục tham gia trao đổi với tác giả Bùi Thị Tố Nga trong việc xác định tội danh đối với V để có sự nhận thức, áp dụng pháp luật thống nhất đối với hành vi có thể xảy ra tương tự trong thực tiễn.

 

                                                                           Lê Quang Minh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     

     

 


Tin liên quan

» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến nghị yêu cầu cơ quan CSĐT Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố tác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
» Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị ban hành kiến yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Trị khắc phục vi phạm trong công tác giải quyết án Hình sự
» VKSND huyện Kế Sách tăng cường công tác Kiến nghị trong tuyên truyền, phổ biến quy định về họ, hụi, biêu phường tại địa phương
» Viện KSND tỉnh Sóc Trăng kiến nghị áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
» Thực hiện tốt việc giải quyết án hình sự liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh Covid 19