Để có trải nghiệm tốt hơn trên trên trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Sóc Trăng, bật JavaScript trong trình duyệt của bạn
Bật javasrcipt trình duyệt Chrome Bật javasrcipt trình duyệt IE
chi tiết tin

Yêu sách lịch sử thiếu cơ sở của Trung Quốc với
Biển Đông và Biển Hoa Đông

-----------o0o-----------

Những bằng chứng trong lịch sử cho thấy Trung Quốc không hề có căn cứ khẳng định chủ quyền với khu vực biển Đông và biển Hoa Đông. Trung Quốc chỉ đang cố gắng thực thi yêu sách này nhằm hiện thực hóa mưu đồ bành trướng của mình trong khu vực.

 Gần đây, Trung Quốc đã sử dụng máy bay và tàu quân sự nhằm đe dọa Nhật Bản trong khu vực biển Hoa Đông gần quần đảo Senkaku (mà Trung Quốc gọi là quần đảo Điếu Ngư và chính quyền Đài Loan gọi là Điếu Ngư Đài). Tương tự, trong khu vực biển Đông, tàu Trung Quốc hoạt động trong khu vực rất xa Trung Quốc, nhưng rất gần các nước Đông Nam Á như Philippines, Malaysia và Việt Nam. Trung Quốc lập luận rằng, khu vực đó thuộc Trung Quốc dựa trên yêu sách lịch sử từ lâu. Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy Trung Quốc không hề có căn cứ lịch sử khẳng định chủ quyền với biển Đông và biển Hoa Đông.

Yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc với biển Đông và biển Hoa Đông được đề cập đến trong hai văn bản. Thứ nhất là “Bằng chứng lịch sử chứng minh chủ quyền của Trung Quốc với quần đảo Nam Sa” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ngày 17/11/2000 đã đưa ra yêu sách biển Đông. Thứ hai là Sách trắng của Trung Quốc với tiêu đề “Đảo Điếu Ngư – vùng lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc” được ban hành tháng 9/2012 đã đưa ra căn cứ lịch sử đối với biển Hoa Đông.

Trung Quốc yêu sách khu vực trong biển Đông và biển Hoa Đông dựa vào những cuốn sách lịch sử của Trung Quốc có đề cập đến những khu vực này. Ví dụ như, trong thời kỳ Tam Quốc (năm 221-277), Dương Phụ (Yang Fu)  đã viết về biển Đông: “Biển Đông có đảo, cồn cát, rạn san-hô và các bãi cạn, khi thủy triều rút thấy nhiều đá hơn”. Mặc dù được khẳng định trong phần A của “Chứng cứ lịch sử”, nhưng đoạn này chỉ mô tả biển chứ hoàn toàn không đề cập đến yêu sách chủ quyền của Trung Quốc.

Các tài liệu tham khảo trong những cuốn sách lịch sử của Trung Quốc cũng có thêm bốn yếu điểm. Thứ nhất, tên trong những cuốn sách này đề cập đến không hoàn toàn giống những khu vực hiện nay Trung Quốc đang yêu sách. Thứ hai, hầu hết những khu vực được mô tả là khu vực của “người man di” (ví dụ người Di) và fan  (người Phiên)) được xác định không phải là người Trung Quốc. Thứ ba, một số đề cập đến mô tả quan hệ giữa các nước “chư hầu” và Trung Quốc, nhưng trong các mối quan hệ với chư hầu, Trung Quốc và các nước chư hầu có sứ giả của mình. Hơn nữa,  các nước chư hầu rõ ràng là không nằm dưới sự cai trị của Hoàng đế Trung Hoa, các nước này không phải là một phần của Trung Quốc hay bị Trung Quốc kiểm soát.

Cuối cùng, yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc đề cập đến Đế quốc Mông Cổ (1279-1367) và Mãn Châu (1644-1911) đánh bại Trung Quốc và cai trị nước này. Sự thất bại của Trung Quốc được minh chứng rõ ràng hơn trong các tài liệu của học giả Trung Quốc vào thời điểm đó, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã bóp méo lịch sử của Trung Quốc bằng cách ngụy biện rằng hai đế quốc ngoại lai cai trị thời đó chỉ là “các dân tộc thiểu số” của Trung Quốc. Hiện nay, việc Trung Quốc khẳng định yêu sách chủ quyền dựa trên căn cứ về Đế quốc Mông cổ hay Mãn Châu thì cũng giống như Ấn Độ yêu sách Singapore bởi vì Ấn Độ và Singapore cùng lúc là thuộc địa của đế quốc Anh hay Việt Nam cũng có thể yêu sách Algeria bởi vì Việt Nam và Algeria cùng lúc là thuộc địa của thực dân Pháp.

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn yêu sách với biển Đông và biển Hoa Đông của Trung Quốc

Biển Đông

Hình 1 cho thấy những khu vực có tranh chấp chủ quyền trên biển Đông. Trung Quốc đưa ra yêu sách rộng lớn nhất ở biển Đông – yêu sách một khu vực chạy dọc theo bờ biển Việt Nam, tới bờ biển của Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines. Trung Quốc yêu sách vùng biển rộng khoảng cách phía nam đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 1,600 km (1000 dặm), điều này là rất khó để bao biện về mặt địa lý.

Hình 1. Tranh chấp chủ quyền tại biển Đông

Hình 2 là một bản đồ chính thức của tỉnh Hải Nam Trung Quốc, cho thấy trên thực tế hình 1 thể hiện đúng yêu sách của Trung Quốc với biển Đông

Hình 2. Bản đồ chính thức của tỉnh Hải Nam Trung Quốc

Tài liệu “Bằng chứng lịch sử” của Trung Quốc bắt đầu cung cấp nhiều bằng chứng hơn về biển Đông từ thời nhà Minh (1368-1644). Tuy nhiên, nhiều thế kỷ trước triều đại nhà Minh, tàu của các thương gia Ả rập và các nước Đông Nam Á đã tràn ngập khắp biển Đông và Ấn Độ Dương. Trung Quốc cũng tham gia vào việc buôn bán này mặc dù thương mại được chi phối bởi Ả rập và các nước Đông Nam Á. Theo lời của Edward Dreyer, sử gia thời nhà Minh, “tiếng Ả rập là một lingua franca (ngôn ngữ trung gian) của thuyền viên từ bờ biển Nam Trung Quốc đến bờ biển châu Phi.

Các thương nhân Ả rập có tầm quan trọng ở nhiều mặt. Trong suốt thời nhà Đường (618-906) “cộng đồng lớn các thương gia nước ngoài người Hồi giáo đã sống ở Canton (tên quốc tế trước của Quảng Châu). Năm 879, Canton bị Hoàng Sào (Huang Chao) đánh chiếm và hầu hết những cuộc chiến kế tiếp theo được mô tả sinh động bằng tiếng Ả rập chứ không phải là tiếng Trung Quốc.

Trước thời nhà Tống, người Trung Quốc không chi phối thương mại ở khu vực biển Đông và Ấn Độ Dương. Theo lời Dreyer, “Trước thời nhà Tống (960-1276), mặc dù Trung Quốc có vai trò quan trọng trong thương mại nhưng tàu và các thương lái Trung Quốc không phải là đối tượng tham gia chính. Trước đó rất lâu, khi hành trình từ Trung Quốc đến Ấn Độ và ngược lại cần thực hiện trên một con tàu lớn và được đi theo bởi các tàu nhỏ liên lạc. Năm 413, Cao tăng Pháp Hiển đã du hành trên một chiếc tàu thương gia lớn. Chiếc tàu lớn nhất mà Cao tăng Pháp Hiển đi là ngày….rất lớn… nhưng đó là tàu của Indonesia không phải là của Trung Quốc.

Năm 1296-1297, Đế quốc Mông Cổ đã cử người sứ giả Trung Quốc tên là Chu Đạt Quan (Zhou Daguan) tới Angkor (hiện nay là Campuchia). Những tài liệu do Zhou viết đã cũng cấp những nguồn thông tin quan trọng về cuộc sống hằng ngày ở Angkor vào thời gian đó, và hai bản dịch tiếng Anh hiện nay cũng đã được xuất bản. Tất nhiên, Angkor là nước nằm bên ngoài đế quốc Mông Cổ do vậy sứ giả Chu không thể viết một cách bịa đặt được.

Đầu triều đại nhà Minh, dưới sự cai trị của Hoàng đế Vĩnh Lạc (trị vì 1403-1424) và người kế nhiệm của ông, vua Minh đã cử một người chủ huy nổi tiếng tên là Trịnh Hòa (Zheng He), thực hiện bảy chuyến du hành lớn đến bờ biển Đông Nam Á, Nam Á và bở biển đông châu Phi giữa những năm 1405 và 1433. Trình Hòa có một hạm đội lớn với rất nhiều “tàu quý”, mà có lẽ là tàu gỗ lớn nhất từng được xây dựng. Nhưng chuyến du hành của Trinh Hòa không phải là chuyến du hành nhằm thám hiểm. Trên thực tế, Dreyer viết, “địa điểm mà Trịnh Hòa đến là cảng thương mại tấp nập nằm trên tuyến đường thương mại thường xuyên và… Trịnh Hòa đã sử dụng những phương pháp định vị dựa vào hướng gió khi gió mùa, phương pháp này đã được những người đi biển Trung Quốc sử dụng từ thời nhà Tống (960-1276) nhưng đã được các thủy thủ Ả rập và Indonesia biết đến từ nhiều thế kỷ trước”. Chuyến du hành của Trịnh Hòa giống như những người Bồ Đào Nha đã tới đó một vài thập kỷ sau, “họ bị thu hút bởi hệ thống thương mại đang hoạt động nhộn nhịp”. Giống như những người Bồ Đào Nha sau đó, Trịnh Hòa dường như cũng nhờ đến những thủy thủ Ả rập khi tới nửa phía Tây Ấn Độ Dương.

Chuyến đi của Trịnh Hòa có mục đích đưa về một số vua chúa và sứ thần của các quốc gia khác nhằm áp đặt hệ thống triều cống của Trung Quốc lên các quốc gia ấy. Và Trịnh Hòa đã làm được điều ấy, nhưng lực lượng quân đội to lớn trong hạm đội của Trịnh Hòa với hơn 27,000 người (chủ yếu là lính tráng) đã chứng tỏ rằng lực lượng hùng mạnh này là một phần trong những chuyến đi và trên thực tế, yếu tố vũ lực đã được sử dụng ba lần.

Tiểu sử của Trịnh Hòa trong cuốn sách chính thức “Lịch sử triều đại nhà Minh (Mingshi )” cho thấy tầm quan trọng của “bàn tay sắt trong găng tay bọc nhung”: “Sau đó, họ đi tới nhiều nước khác… Những người không quy phục sẽ bị trấn áp bởi vũ lực”. Các chuyến đi của Trịnh Hòa có những tác động nhất định. Sự nổi lên của Malaca như một thương cảng là một phần nhờ vào các chuyến đi của Trịnh Hòa. Nhưng, “Sau khi thế hệ lãnh đạo thứ ba của Malacca chuyển sang đạo Hồi vào năm 1436, Malacca đã thu hút đến cảng biển của mình ngày càng đông thương gia từ Ấn Độ Dương và biển Đông, nhiều chiếc tàu chở theo các thương gia người Hồi giáo và các phi hành đoàn thủy thủ người Hồi giáo đến đây… [Sau Trịnh Hòa] thương mại phần lớn bị chi phối bởi người Hồi giáo cho đến khi người Bồ Đào Nha xuất hiện.

Do chi phí các chuyến đi của Trịnh Hòa rất lớn, cũng như mối lo ngại của triều đại nhà Minh với mối đe dọa của quân Mông ở phương Bắc, Trung Quốc chuyển sang hướng nội và tập trung lên phía Bắc: “Vua Minh cấm đóng tàu biển và cấm các hoạt động thương mại với nước ngoài đang được tiến hành và người dân Trung Quốc – những người vi phạm luật cấm này đã vượt biên ra khỏi Trung Quốc và không còn chịu sự áp đặt của quy định này”. Với chính sách đối ngoại hướng về phương Bắc và cấm đóng tàu cũng như hoạt động thương mại với nước ngoài, vua Minh Trung Quốc đã rút khỏi đại dương. Theo tôi, chính sách này cũng có ảnh hưởng đến biển Đông.

Trước khi kết thúc, chúng ta hãy xem xét một lập luận khác được dùng để chứng minh rằng Trung Quốc đã từng làm chủ các khu vực trong biển Đông. Lập luận này nhấn mạnh đến sự phát hiện ra các mảnh gốm sứ của Trung Quốc. Như đã đề cập trước đó, biển Đông là trung tâm thương mại nhộn nhịp với nhiều loại tàu thuyền mang đến những sản vật khác nhau bao gồm cả gốm sứ Trung Quốc và các các loại gia vị của Đông Nam Á. Nhưng hầu hết các tàu chở hàng này là tàu Đông Nam Á hay Ả rập. Ít nhất đã có một vị lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc sai lầm trong lập luận giữa sản vật đem bán và sản vật do tàu thương mại chở đến. Trong bài phát biểu của mình tại Quốc hội Úc vào ngày 24/10/2003, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nói: “Quay trở lại những năm 1420, các hạm đội viễn chinh của nhà Minh đã từng đến bờ biển nước Úc”.  Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đề cập đến Trịnh Hòa, nhưng chúng ta biết hành trình của các chuyến đi của Trịnh Hòa và chúng ta chắc chắn rằng Trịnh Hòa chưa từng đến Úc. Trên thực tế, thổ dân Úc từ lâu đã có giao lưu thương mại với người Macassa – những người đến từ Sulawesi ở Indonesia hiện nay và các đồ gốm sứ Trung Quốc có thể đến trong quá trình giao lưu thương mại này, ngoài ra còn có cả hải sâm và gỗ ở phía Bắc Úc. Thương mại giữa người bản địa bắc Úc và người Macassa khiến cho nhiều từ của Macassa trở thành một phần ngôn ngữ bản địa của bắc Úc nhưng nó không cung cấp bằng chứng khẳng định rằng người Trung Quốc đã từng đến bờ biển Úc trước thế kỷ 19.

“Bằng chứng lịch sử” không chứng minh được yêu sách dựa trên lịch sử quan trọng của Trung Quốc: cái gọi là “đường lưỡi bò” ở biển Đông. Đường này lần đầu xuất hiện là năm 1933 bởi Ủy ban Điều tra bản đồ Đất và Biển của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc. Theo hầu hết tài liệu, mốc thời gian “đường lưỡi bò” (hình 3) được xuất bản là năm 1947, nhưng cũng có một số tài liệu khác cho rằng thời điểm “đường lưỡi bò” được xuất bản là đầu tháng 12/1946 hoặc cuối tháng 2/1948. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, Thủ tướng Chu Ân Lai đã chấp nhận đường lưỡi bò trước đó là hợp lệ. Sau đó, đường lưỡi bò đã được thay đổi với các hình dáng khác nhau như phiên bản 9 nét, 10 nét hoặc 11 nét đứt đoạn . Tuy nhiên, bản đồ “đường lưỡi bò” này hoàn toàn không thể là bằng chứng lịch sử chứng minh “chủ quyền” của Trung Quốc với Biển Đông.

Hình 3. Bản đồ “đường lưỡi bò” đầu tiên của chính quyền Trung Hoa Dân quốc cuối những năm 1940

Biển Hoa Đông

Yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc với biển Hoa Đông được nêu rõ trong Sách trắng “Đảo Điếu ngư – vùng lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc” công bố tháng 9/2012. Lập luận lịch sử của Trung Quốc trong Sách trắng được bắt đầu bằng đảo Điếu Ngư (hoặc sử dụng tên Nhật Bản của nó là đảo Senkaku) được đề cập đến trong cuốn sách Trung Quốc xuất bản năm 1403 mang tên “ Thuận Phong Tương Tống” (“Shunfeng xiangsong”). Như đã nói ở trên, việc xác định cụ thể các vị trí ngày nay với các khu vực được sách cổ Trung Quốc đề cập đến là không chính xác, và bất kỳ trường hợp nào, việc đặt tên cho một quốc gia hay khu vực không thể nói lên rằng Trung Quốc đã có yêu sách với khu vực đó. Đáng chú ý là Bộ Ngoại giao Cộng hòa Trung Hoa ở Đài Loan đã đưa ra yêu sách tương tự vào tháng 9/2012 nhưng yêu sách đó đã bị xóa đi khỏi trang web Bộ Ngoại giao vào tháng 6/2013.

Sách trắng sau đó đề cập đến Vương Quốc Lưu Cầu (Ryukyu) bắt đầu triều cống nhà Minh từ năm 1372. Như đã đề cập trước đó, quan hệ nước lớn - nước chư hầu không có nghĩa là nước lớn có quyền sở hữu nước chư hầu. Quốc gia chư hầu là ngoại quốc và vua Minh cử sứ giả đến các nước đó và ngược lại, các nước cũng cử sứ giả đến Trung Quốc. Quan hệ chư hầu đem lại cho nước chư hầu lợi ích đáng kể về mặt ngoại thương với Trung Quốc.

Như đã trình bày trong phần về biển Đông, sau khi Hoàng đế Vĩnh Lạc và Trịnh Hòa qua đời, triều đại nhà Minh tập trung vào công việc trong nước và phương Bắc, cấm “đóng tàu biển cũng như hoạt động ngoại thương”. Người Hán từ Phúc Kiến đã tới Đài Loan trong thời gian ngắn, chủ yếu là tới phía tây nam Đài Loan nhằm đánh bắt cá, giao lưu thương mại với các thổ dân và trốn cướp biển. Tuy nhiên khi đó Đài Loan vẫn là ngoại quốc và không có người Hán định cư lâu dài ở Đài Loan cho đến khi người Hà Lan nhập khẩu lao động từ Trung Quốc sau khi thiết lập chế độ thuộc địa ở đây vào năm 1624. Khi quân Tây Ban Nha vào Đài Loan năm 1626, họ hầu như không thấy người Hán ở phía bắc Đài Loan.

Đài Loan ít được đề cập đến trong các tài liệu của Trung Quốc cho đến cuối triều đại nhà Minh. Trong tài liệu của Laurence G. Thompson – một trong những học giả đầu tiên của phương Tây về lịch sử Đài Loan đã viết: “Một thực tế đáng chú ý nhất về lịch sử của Đài Loan là nó dường như không được nhắc tới trong sử sách Trung Quốc. Đây là hòn đảo rất lớn…nên dường như nó vượt ra ngoài phạm vị của các học giả Trung Quốc cho đến cuối thời nhà Minh (thế kỷ 17)” Đảo Điếu Ngư nhỏ hơn nhiều so với Đài Loan, xa hơn nhiều so với từ nhà Minh sang phía Đông Đài Loan và không có người ở. Vì vậy, khi các tài liệu nhà Minh không đề cập đến một hòn đảo lớn hơn và gần hơn như đảo Đài Loan, thì dường như chắc chắn hòn đảo nhỏ và xa như đảo Điếu Ngư sẽ khó được đề cập tới.

Trong thực tế, cả CHND Trung Hoa và Đài Loan đều tuyên bố rằng quần đảo Điếu Ngư thuộc Nhật cho đến năm 1968 khi Ủy ban Kinh tế châu Á và Viễn Đông của Liên Hợp Quốc khảo sát tài nguyên khoáng sản ven biển và cho rằng có thể có khí hydrocacbon trong vùng biển gần quần đảo. Ngày 8/1/1953, tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đăng bài báo cho rằng đảo Điếu Ngư thuộc quần đảo Ryukyu của Nhật Bản. Trong hình 4, bài viết này nằm ở phía dưới bên trái của hình. Hình 5 là nội dung bài báo. Bài báo bắt đầu:

Quần đảo Ryukyu nằm giữa vùng biển phía đông bắc Đài Loan và phía tây nam đảo Ryushu của Nhật Bản. Nó có 7 nhóm đảo trong đó có quần đảo Senkaku… Quần đảo Ryukyu kéo dài 1000km. Một bên (bên trong) là biển Hoa Đông Trung Quốc. Một bên (bên ngoài) là vùng biển cả (công hải) thuộc Thái Bình Dương.

Đoạn văn trên cho thấy rằng quần đảo Điếu Ngư  không thuộc lãnh thổ Trung Quốc, sự lý giải trong nhiều bằng chứng khác cũng cho thấy điều này.

Hình 4. Trang báo Nhân Dân Nhật báo

Hình 5. Bài báo trên báo Nhân Dân viết quần đảo Điếu Ngư thuộc
quần đảo Ryukyu

Năm 1958, Trung Quốc xuất bản Bản đồ Thế giới trong đó quần đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật Bản. Bản đồ của Nhật Bản (hình 6) có một bản đồ riêng của quần đảo Ryukyu ở góc dưới bên phải. Trên bản đồ này, biên giới quốc tế của Trung Quốc kéo dài đến phía đông của Đài Loan nhưng đến phía tây của quần đảo Điếu Ngư mà được ghi rõ bằng chữ tiếng Trung là đảo Uotsurivà là quần đảo Senkaku.

Ba bản đồ khác dưới đây chứng minh rằng quần đảo Điếu Ngư nằm ở phía đông biên giới quốc tế của Trung Quốc và nằm về phía đông bắc của đảo Đài Loan. Các bản đồ đó là Chính trị Châu Á (hình 7), Địa hình Trung Quốc (hình 8) và Chính trị Trung Quốc (hình 9). Trong hình 8 và hình 9, đường biên giới quốc tế của Trung Quốc nằm kinh tuyến 123 độ tây, còn các đảo thuộc quần đảo Điếu Ngư đều nằm ở kinh tuyến 123 độ đông. Chính quyền Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch cũng nhiều lần xuất bản các bản đồ chính thức cho thấy quần đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật Bản cho đến năm 1971.

Hình 6: Bản đồ Nhật Bản

 Hình 7: Bản đồ Chính trị Châu Á

 Hình 8: Bản đồ địa hình Trung Quốc

Hình 9: Bản đồ Chính trị Trung Quốc

Đến năm 1968 sau khi cả hai Ủy ban Kinh tế châu Á và Viễn Đông của Liên Hợp Quốc khảo sát nguồn khoáng sản ven biển cho rằng nguồn khí hydrocarbon có ở khu vực đảo Điếu Ngư, cả chính phủ CHND Trung Hoa và chính quyền Tưởng Giới Thạch đều tỏ rõ sự quan tâm đến khu vực này. Hơn nữa, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc dựa trên Hiệp ước Shimonoseki (1895), hoặc Hiệp định Hòa bình San Francisco (1951) đều không xác đáng bởi các Hiệp ước và Hiệp định đó không đề cập đến đảo Điếu Ngư. Những đảo đó không thuộc Trung Quốc do vậy, không thể được trả lại.

Yêu sách quần đảo Điếu Ngư “luôn là đảo phụ thuộc của đảo Đài Loan Trung Quốc về cả mặt địa lý và trong cả thực hiện quyền tài phán trong lịch sử của Trung Quốc” cũng thiếu căn cứ lịch sử. Chính quyền Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch đã chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ngày 25/10/1945. Văn phòng chỉ huy hành chính tỉnh của Đài Loan đã cho xuất bản cuốn sách lớn dưới tên Chen Yi với 540 bảng biểu, 1384 trang; nội dung viết về Đài Loan trong 51 năm vừa qua. Sử dụng số liệu thống kê tháng 8/1946, cuốn sách này cho thấy gần hết phần phía đông của tỉnh Đài Loan là đảo Đài Loan (122 ° 00'04 "Đ), đảo Pengjia (122 ° 04'51 "Đ) và đảo Mianhua (122 ° 06'15" Đ). Những địa điểm này chỉ nằm về phía đông của kinh tuyến 122° . Tuy nhiên, phía tây của đảo Senkaku xa hơn 1°24'45" về phía đông kinh tuyến 123°31'0". Như vậy, trong thời gian Đài Loan là thuộc địa của Nhật (1895-1945), đảo Điếu Ngư chưa bao giờ là một phần của Đài Loan. Điều này khác so với ở biển Đông – nơi Nhật đã quản lý một số hòn đảo thông qua sự cai trị thuộc địa Đài Loan của mình.

Chính phủ Trung Quốc cũng bất mãn với cái gọi là “quốc hữu hóa” quần đảo Điếu Ngư của Nhật, một vấn đề được đề cập đến trong cả lời mở đầu và kết luận của Sách trắng về quần đảo Điếu Ngư. Trung Quốc khẳng định rằng chính phủ Nhật Bản đã có được chủ quyền với quần đảo thông qua quá trình quốc hữu hóa này. Trên thực tế, đây là một sự hiểu lầm. Như chúng ta thấy, chính phủ Nhật Bản đã thực thi chủ quyền với quần đảo Điếu Ngư trước khi quốc hữu hóa và quá trình quốc hữu hóa không làm thay đổi chủ quyền ở đây. Thay vào đó, thông qua quốc hữu hóa, chính phủ Nhật đã chuyển đối đất đai từ sở hữu tư nhân sang đất được quản lý bởi chính phủ. Điều này là bình thường, ví dụ như khi chính phủ chuyển sở hữu tư nhân vào một công viên quốc gia.

Trong diễn đàn quốc tế Thái Bình Dương năm 2013 được tổ chức tại Bắc Kinh hồi tháng 10/2013 gần đây, các học giả Trung Quốc tiếp tục đưa ra những “bằng chứng lịch sử” nhằm khẳng định quần đảo Điếu Ngư thuộc Trung Quốc. Một học giả đưa ra bản đồ thời nhà Minh về hai bờ biển của tỉnh Phúc Kiến và quần đảo Điếu Ngư. Tuy nhiên, bản đồ không có Đài Loan. Rõ ràng, cái gọi là quần đảo Điếu Ngư trong bản đồ ấy không phải là đảo nằm ở phía đông bắc của Đài Loan

Một học giả khác khẳng định rằng bản đồ quân sự của Nhật cho thấy quần đảo Điếu Ngư thuộc Trung Quốc nhưng trên bản đồ đó chỉ đơn giản ghi là “Đài Loan và các đảo phụ thuộc”. Những chứng cứ trong các tài liệu này rõ ràng thể hiện rằng quần đảo Điếu Ngư không liên quan đến Đài Loan. Các học giả Trung Quốc hiện nay vẫn tiếp viện dẫn đến yêu sách dựa trên lịch sử đối với đảo Senkaku nhưng những chứng cứ lịch sử nghèo nàn và thiếu logic sẽ luôn là cơ sở cho những “nghiên cứu” của họ.

Kết luận

Thái độ hung hăng của Trung Quốc nhằm hiện thực hóa yêu sách biển Đông và biển Hoa Đông của mình đang đe dọa hòa bình khu vực châu Á. Trong đàm phán với Trung Quốc về những vấn đề này, Mỹ và các quốc gia có yêu sách biển khác cần làm rõ rằng họ không chấp nhận cái họi là yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc. Chúng ta phải chú thích rằng, những yêu sách này không có căn cứ lịch sử và Trung Quốc đang cố gắng sử dụng yêu sách phi lý của mình nhằm hiện thực hóa quá trình bành trướng của mình ở khu vực biển Đông và biển Hoa Đông.

Đáng tiếc là, cho đến nay, Trung Quốc đã thất bại trong việc cho các bên thấy nỗ lực thực hiện các bước nhằm đạt được hòa bình thực sự trong các tranh chấp ở biển Đông và biển Hoa Đông. Ví dụ như, đáp lại đề xuất sử dụng tòa án quốc tế của Philippines gần đây đó là Tòa Trọng tài thường trực, một bình luận trên Nhân Dân Nhật báo cho rằng: “Hành động của phía Philippines là đi ngược lại với luật pháp quốc tế và sự thật lịch sử cũng như đi ngược lại với đạo lý và các nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế. Một bình luận khác chỉ trích đề xuất của Philippines, cho rằng hành động của Philippines là vô đạo lý, đồng thời chỉ ra rằng Trung Quốc không sẵn sàng thực hiện bất kỳ sự nhượng bộ nào và Trung Quốc kiên quyết không chấp nhận bất kỳ tòa trọng tài phân xử tranh chấp nào.

Tương tự như vậy, đoạn cuối trong Sách trắng “quần đảo Điếu Ngư” cũng nhấn mạnh Trung Quốc không sẵn sàng thực hiện bất kỳ sự nhượng bộ nào:

Trung Quốc kêu gọi Nhật tôn trọng lịch sử và luật pháp quốc tế, ngay lập tức dừng những hành động xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Lập trường về chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc là rõ ràng và kiên định. Trung Quốc tự tin và có khả năng bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, tuyên bố của Trung Quốc trong “lịch sử và luật quốc tế” không chứng minh rằng Trung Quốc có chủ quyền với quần đảo Senkaku.

Các nhà hoạch định chính sách phải tiếp tục nỗ lực để đạt được hòa bình ở khu vực biển Đông và biển Hoa Đông,  khả năng Trung Quốc chấp nhận bất kỳ một đề xuất hợp lý nào tôn trọng lịch sử và địa lý dường như rất khó xảy ra. Nhật Bản, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei và các quốc gia có lợi ích liên quan khác như Mỹ, Úc phải duy trì năng lực quân sự thật mạnh để ngăn chặn sự tấn công của Trung Quốc đồng thời nỗ lực tìm kiếm các giải pháp thương lượng hòa bình với Trung Quốc.

Nguồn: nghiencuubiendong.vn


Tin liên quan

» Tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam
» Trung Quốc sắp đưa dàn khoan 982 ra Biển Đông
» Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
» Vạch trần mưu đồ xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Trường Sa
» Biển Đông: Địa chiến lược và tiềm năng kinh tế